Trang chủ

2009-04-07: Đạo Bụt và Khoa Học

Đạo Bụt và Khoa Học



Tứ diệu đế - nguyên tắc trị liệu của y khoa.

Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống của tài năng, của tình thương và của hạnh phúc. Nếu các hạt giống ấy được nuôi dưỡng, được tưới tẩm hằng ngày thì không những mình có được hạnh phúc mà còn mang lại hạnh phúc cho người khác. Tuy vậy, ta nên biết, bên cạnh những hạnh phúc, ta vẫn còn có những khó khăn, những khổ đau trong thân tâm. Ta cần để thời gian để nhìn lại chúng, để gọi tên chúng và để công nhận sự có mặt của chúng. Ta không được đè nén hay trốn chạy chúng. Nỗi khổ niềm đau ấy có thể là do cha mẹ, tổ tiên của ta trao truyền lại. Nếu chúng ta gọi được tên của những nỗi khổ niềm đau, chúng ta sẽ cảm thấy rất khỏe. Sở dĩ, chúng ta còn khổ bởi chúng ta chưa chịu công nhận những nỗi khổ niềm đau của mình. Có công nhận chúng thì mới có cơ hội tính đến chuyện chuyển hóa chúng.
Đối với những người thương của mình, những người sống xung quanh mình, mình cũng cần quán chiếu để thấy được những khó khăn, những yếu kém, những khổ đau của họ. Bởi vì khó khăn của họ có ảnh hưởng đến hạnh phúc của chính chúng ta. Thật vậy, nhiều người đã không biết cách xử lý những khổ đau của chính họ nên không những họ tự gây khổ đau cho mình mà còn làm khổ người khác. Chúng ta phải thấy được, những người ấy rất đáng thương. Vì họ cũng chỉ là nạn nhân của những những tập khí xấu được trao truyền từ ông bà tổ tiên qua nhiều thế hệ. Nếu thấy được nguyên nhân và gốc rễ của những khó khăn nơi người kia thì mình sẽ chấp nhận được họ mà không gây áp lực, không đòi hỏi sự thay đổi nơi họ, ngược lại còn giúp họ chuyển hóa những yếu kém ấy. Sự chấp nhận này được để thể hiện bằng chất liệu từ bi qua cách nói, cách nhìn của mình đối với người ấy. Chính sự chấp nhận đó mới có khả năng mang lại sự thay đổi nơi chính mình và nơi người khác.

Tuy nhiên, muốn giúp được người, trước tiên cần làm hòa, cần chấp nhận những khổ đau và yếu kém của chính bản thân mình. Mình có thể viết một lá thư chia sẻ những nỗi khổ niềm đau của mình với người kia. Trong thư cần nêu được nguyên nhân nào đã đưa đến những khổ đau nơi mình. Rồi mình giúp người kia quán chiếu những khổ đau của chính họ.

Các bác sĩ tâm lý trị liệu có nhiệm vụ giúp đỡ các bệnh nhân thấy được nguyên nhân dẫn đến khổ đau. Tuy nhiên, bác sĩ tâm lý trị liệu cũng phải hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính họ, phải biết được gốc rễ đã đưa đến những nỗi khổ niềm đau ấy. Tóm lại, cả hai –bệnh nhân và bác sĩ đều phải làm việc. Họ phải thực tập như một Phật tử, là xác nhận khổ đau của mình đang có mặt. Có chấp nhận những khổ đau ấy có mặt thì mới có cơ hội tìm đến được gốc rễ của những khổ đau ấy, đó là tập đế. Khi biết được nguyên nhân của những khổ đau, mình sẽ có con đường để chuyển hóa, để trị liệu chúng, đó là đạo đế. Một bác sĩ y khoa cũng nên thực tập theo phương pháp Tứ Diệu Đế. Vì Tứ Diệu Đế là linh dược trị khổ đau.

Tìm sen tươi nơi bùn nhơ

Khi nhìn sâu vào những khổ đau, chúng ta sẽ thấy được gốc rễ của nó. Đó chính là chánh kiến. Với chánh kiến, mình sẽ không còn oán trời trách đất nữa mỗi khi gặp khổ đau. Chánh kiến ấy trước hết là cái thấy về bốn sự thật. Nếu quán chiếu sâu sắc, mình thấy được tính tương tức giữa các sự vật, các hiện tượng, đó cũng là chánh kiến. Cụ thể, mình thấy được hạnh phúc và khổ đau có tính tương tức, khổ đau và hạnh phúc nương vào nhau mà có, không có hạnh phúc thì không thể có khổ đau và ngược lại. Rõ ràng, khổ đau đóng một vai trò trong việc xây dựng hạnh phúc. Như bùn nuôi sen tươi vậy. Thấy được điều này, cách hành xử của mình cũng sẽ thay đổi theo. Một người không biết khổ đau thì sẽ không biết hạnh phúc là gì. Có trải qua khổ đau, mình mới có được sự hiểu biết và thương yêu. Hiểu biết và thương yêu làm ra chất liệu của hạnh phúc chân thật. Người nào không biết hiểu, không biết thương thì không thể có được hạnh phúc.

Nếu không sợ hãi khổ đau, can đảm ôm lấy nó, nhìn sâu vào nó, mình sẽ tìm ra được hạnh phúc. Đây gọi là cái nhìn bất nhị, cái nhìn tương tức. Tính bất nhị có mặt trong các hiện tượng như: trái và phải, thiện và ác, tốt và xấu. Nhìn vào cái này mình sẽ thấy được cái kia, và nhìn vào cái kia mình sẽ thấy được cái này. Để có những cái thấy đúng là cả một quá trình tu tập. Nếu có được cái thấy này, mình sẽ vượt thắng được cái nhìn nhị nguyên giữa khổ đau và hạnh phúc, tức là cho rằng khổ đau là một cái và hạnh phúc là một cái khác. Mình không còn ý niệm trốn chạy khổ đau để đi tìm hạnh phúc nữa. Mình có thể tìm hạnh phúc ngay trong khổ đau. Cũng như tìm niết bàn trong sanh tử, tìm bản môn trong tích môn.

Phương tiện không phải là cứu cánh

Đức Thế Tôn đã trao tặng cho chúng ta giáo lý vô thường để chữa trị cái thấy thường, giáo lý vô ngã để chữa trị cái thấy ngã. Tuy nhiên, cái thấy về vô thường, cái thấy về vô ngã cũng chỉ là những cái thấy. Nếu còn kẹt vào chúng, chúng ta vẫn còn chưa đạt được chánh kiến. Đối với cái thấy về thường thì cái thấy về vô thường là chánh kiến, đối với cái thấy về vô thường thì cái thấy về thường là tà kiến. Nhưng vô thường vẫn còn là một cái kiến, và mình phải tìm cách vượt thoát luôn cái thấy về vô thường. Chánh kiến theo tinh thần đạo Bụt là vượt thoát tất cả những cái thấy. Thí dụ như việc quan sát chiếc đồng hồ. Ta có thể quan sát nó từ các góc độ khác nhau. Nhưng tất cả những cái thấy về chiếc đồng hồ từ các góc độ nhìn ấy đều không phải là chiếc đồng hồ thật. Phải vượt thoát tất cả những cái thấy ấy mới thấy được chiếc đồng hồ thật sự. Cũng như cái thấy về thường là tà kiến mà cái thấy về vô thường cũng vẫn còn là tà kiến, vì nó đối chọi lại với cái thấy về thường. Giáo lý niết bàn, vô ngã, duyên sinh mà Thế Tôn để lại cho chúng ta được ví như ngón tay chỉ mặt trăng, ngón tay hoàn toàn không phải mặt trăng. Nếu nương vào “hướng chỉ của ngón tay”, ta có thể thấy được mặt trăng. Mặt trăng chính là chánh kiến còn “ngón tay chỉ mặt trăng” là phương tiện. Trong kinh Kim Cương, Thế Tôn đã ví giáo pháp của ngài chỉ như là chiếc bè dùng để qua sông, chiếc bè hoàn toàn không phải “bờ bên kia”. Vô thường, vô ngã cũng có thể được coi là chánh kiến, nhưng nó không phải là bờ bên kia, nó chỉ là phương tiện để đưa chúng ta đến bờ bên kia. Tinh thần của Đạo Bụt là phá chấp, là không bị kẹt vào cái thấy nào cả, và tinh thần này cũng là tinh thần khoa học.

Khi có một cái thấy nào đó, mình mừng và cho rằng, nó là chân lý tuyệt đối. Kẹt vào nó rồi thì không thể đi tới được. Tương tự như việc, đã leo lên nấc thang thứ tư rồi mà không thể tiếp tục leo lên nấc thang thứ năm, bởi nghĩ rằng, nấc thang thứ tư là cao nhất. Nếu muốn leo lên nấc thang thứ năm phải buông bỏ nấc thang thứ tư. Đó gọi là buông bỏ tri kiến, là phá chấp. Kinh Bách Dụ có kể rằng, có một thương gia nọ rất mực thương yêu người con trai duy nhất của mình. Trong một chuyến đi buôn bán xa, ở nhà, bọn cướp đã đến cướp toàn bộ gia sản và đốt cháy gia trang của ông. Khi trở về, trước cảnh đổ nát, ông phát hiện một xác chết bị cháy đen. Ông tin rằng, đây là xác đứa con trai duy nhất của mình. Ông vô cùng đau đớn. Ông làm lễ hỏa thiêu cho cái xác ấy. Tro còn lại được ông cho vào cái túi gấm và luôn đeo bên mình. Ông tin rằng, đây là tro cốt của con mình. Nhưng sự thực đứa con ấy vẫn còn sống. Đứa con trai của ông thừa lúc bọn cướp sơ hở đã trốn thoát được, và tìm về ngôi nhà mới của thương gia. Trong lúc thương gia đang ôm túi tro và rưng rức khóc nhớ con thì người con trai gõ cửa. Ông ta hỏi: “Ai đó?” Người con trai trả lời: “Con là con của cha đây!” Nhưng ông ta không tin: “ Mày là đồ lường gạt. Con của ta đã chết từ lâu rồi. Hãy đi đi”. Ông ta quyết định không mở cửa. Người con trai bỏ đi, và ông thực sự mất đứa con. Sau khi kể chuyện này, Bụt kết luận, có người cứ chấp vào một cái thấy mà họ cho là chân lý, nhưng khi chân lý đến gõ cửa thì họ lại không thèm mở cửa. Đây là kiến thủ. Sự thực tập quan trọng nhất của đạo Bụt là phá chấp, để đừng bị kẹt vào một cái thấy nào dù đó là cái thấy vô thường, vô ngã hay duyên sinh.

Kinh Bảo Tích thì nói về không. Vì Thế Tôn thấy rằng, có quá nhiều người kẹt vào cái thấy về có cho nên mới cho họ giáo lý về Không để đối trị. Nhưng khi thoát khỏi cái thấy về có rồi thì lại bị kẹt vào cái thấy về không. Do vậy, kinh Bảo Tích mới có câu: “thà bị kiến chấp có nhiều như núi còn hơn kiến chấp về không như một mảy lông”. Vì kiến chấp về có còn có thể thoát ra được nhờ vào cái thấy về không, nhưng kiến chấp về không thì rất khó để thoát ra. Cái thấy về không là một phương tiện, nhưng cũng là một kiến chấp. Vấn đề là phải vượt ra khỏi cả cái thấy về có lẫn cái thấy về không. Đó là tinh thần biện chứng trong đạo Phật. Triết gia Hegen cũng đã từng khẳng định: “bất kỳ quan điểm nào cũng tồn tại mâu thuẫn nội tại”, tức là nó có phần chân lý, nhưng cũng có phần sai lầm.  Quan điểm này của triết gia rất gần với quan điểm của đạo Bụt.

Khi có một chính đề được đưa ra, người ta có thể đưa ra một phản đề để chống lại. Phản đề được đưa ra sẽ chữa lại được chính đề. Do vậy, phải biết dùng phản đề để đưa chính đề đi lên, và cuối cùng đi đến tổng hợp đề -là sự kết hợp giữa chính đề và phản đề. Thí dụ như bàn về cách thức tổ chức một sự kiện nào đó của tăng thân. Có người đưa ra ý kiến A. Nhưng có người lại đưa ra ý kiến B, vì nhận thấy ý kiến A còn yếu kém. Ý kiến A và B chống đối nhau như mặt và trời mặt trăng. Mình có thể phải bỏ phiếu tán đồng cho ý kiến A hoặc ý kiến B. Nhưng mình có thể đem ý kiến A dung hợp với ý kiến B để đi tới ý kiến C.  Đó là kiến hòa đồng giải. Đưa ra được ý kiến C sẽ khiến mọi người được hoan hỷ. Nếu vẫn chưa cảm thấy ý kiến C hợp lý thì vẫn có thể đưa ra phản đề D. Sự dung hợp giữa C và D sẽ đi tới E.  Nếu với ý kiến E mà mình vẫn còn thấy chưa ổn, vẫn còn thấy được điều mâu thuẫn, mình sẽ có được cái thấy mới. Quá trình này gọi là biện chứng pháp. Trong đạo Bụt cũng có biện chứng pháp. Nếu coi chính đề là cái thầy về thường, Bụt đã đưa ra phản đề là cái thấy về vô thường. Nhưng Bụt có dạy, vô thường chỉ là giáo lý đối trị với sự vướng mắc vào thường; nó cũng chỉ là một cái thấy. Do vậy, phải vượt luôn cái thấy ấy.

Trong trung quán luận có nói, mình có những cái thấy và thường bị kẹt vào nó. Ví dụ như nói về chuyện sanh diệt. Nếu đứng về hiện tượng giới thì vạn vật dường như có sanh có diệt. Nhưng đứng về phương diện bản thể thì vạn vật không sanh không diệt. Hoặc đứng về phương diện vô thường, vô ngã thì vạn vật dường như có sanh có diệt, nhưng đứng về phương diện niết bàn thì vạn vật không sanh không diệt. Như vậy, làm sao dung hòa được đối với hai cái thấy có vẻ như mâu thuẫn này. Biện chứng pháp của ngài Long Thọ có thể giúp mình đi từ hiện tượng giới đến bản thể giới. Chương đầu của trung quán luận nói về chuyện vô sinh. Long Thọ đặt câu hỏi, sự vật tự nó sinh hay tha sinh –do một cái khác sinh ra. Ví dụ như đóa hoa tự nó sinh ra hay do một cái khác sinh ra? Vũ trụ tự sinh hay do cái khác sinh ra? “Cái khác” có thể là thượng đế. Ngài Long thọ đã đề cập đến các mệnh đề: Sự vật tự nó sinh hay do cái khác sinh; sự vật vừa do mình vừa do cái khác sinh, hoặc không do nguyên nhân nào hết; kết luận, vô sinh và sinh chỉ là một ý niệm. Rõ ràng, ngài Long Thọ đã dùng biện chứng pháp để đưa đến kết luận: sự vật vô sinh. Đạo Bụt khuyến khích sự khám phá, tìm hiểu liên tục không ngừng nghỉ. Do vậy, thái độ của người Phật tử phải cởi mở, đón nhận, đừng để bị vướng vào bất kì cái thấy nào. Kẹt vào bất kì một cái thấy nào cũng khiến mình trở thành độc tài, cố chấp, giáo điều. Khi cố chấp, mình dễ phạm vào những tội ác: bạo động, chiến tranh,…Ý thức để không kẹt vào những cái thấy là điều giới rất quan trọng của đạo phật. Hẳn nhiên, chúng ta cần có một cái thấy, nhưng phải khéo léo khi sử dụng nó, đừng để bị kẹt vào nó như là một chân lý tuyệt đối. Bụt cũng đã dạy, mình cần chiếc bè để qua sông, nhưng đừng lầm tưởng chiếc bè là bờ bên kia; mình cần ngón tay để thấy mặt trăng, nhưng ngón tay không phải là mặt trăng.

Cái thấy của khoa học đang gần đến sự thật

Có quan niệm cho rằng, không còn gì nữa sau khi chết; quan niệm này trái chống với tinh thần khoa học, theo khoa học thì “không có cái gì tự nhiên sinh ra cũng không có cái gì tự nhiên mất đi, mà nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Hoặc lại có quan niệm, những nguyên nhân đưa tới sự xuất hiện của con người không tiên liệu được con người sẽ đi về đâu và làm được cái gì; quan niệm này lại trái chống với tinh thần của tôn giáo; bởi vì tôn giáo cho rằng, thượng đế sáng tạo ra vũ trụ này để làm chỗ ở cho con người. Chúng ta có thể coi vũ trụ quan của tôn giáo là một chính đề, vũ trụ quan của khoa học là một phản đề, và cần đưa ra một hợp đề. Khoa học cho rằng, căn nguyên, sự phát triển và sự tín ngưỡng của con người đều chỉ là những hậu quả của sự giao tiếp tình cờ giữa các nguyên tử. Trong khi đó, tôn giáo nói, sự việc này có chủ đích, có chương trình đàng hoàn chứ không phải không có gì hết. Khoa học lại nói, không có chương  trình, không có mục đích, chỉ có luật tiến hoá của sự sống thôi, và sự tiến hoá của sự sống hoàn toàn căn cứ trên sự tình cờ.

Đạo Bụt nói gì? Đạo Bụt nói, không có một đấng thượng đế tạo ra mọi vật, nhưng cũng không giải thích bằng sự tình cờ. Trong giáo lý duyên sinh, mọi sự vật hiện tượng đều có nguyên do hết. Những hành động, lời nói và suy nghĩ đều tạo ra một nguồn năng lượng, và nguồn năng lượng này điều khiển, làm biểu lộ ra những hình ảnh của sự sống, những phương diện khác nhau của sự sống. Như vậy, có “một lực lượng” điều khiển chứ không hoàn toàn do sự tình cờ. Như đã nói ở trên, có quan niệm cho rằng, chết là hết –không có tư duy, cảm thọ nào trong con người tiếp tục tồn tại sau khi xác thân tàn hoại. Cái thấy này, đạo Bụt gọi là đoạn kiến. Cái thấy đoạn kiến trái chống với cái thấy thường kiến – sau khi chết, sự vật còn y nguyên, hoặc lên thiên đường, hoặc xuống địa ngục.

Còn quan điểm của những nhà khoa học thì cho rằng không có gì tự nhiên mất đi hết. Vậy thực chất chuyện này như thế nào? Sau khi xác thân này tàn hoại, có còn lại gì không?

Mỗi ngày, chúng ta đều chế tác ra năng lượng. Mỗi tư duy của chúng ta là năng lượng; những hành động của chúng ta là năng lượng; những ngôn ngữ của chúng ta cũng là năng lượng. Và những năng lượng đó đã lên đường tạo tác ngay khi chúng phát khởi ra chúng. Những năng lượng của tư duy và hành động vẫn còn, và nó là sự tiếp tục của mình. Như vậy, đối với đạo Phật, quan niệm sau khi xác thân này tan hoại thì không còn gì hết là một tà kiến. Đám mây không biến mất mà đã chuyển thành mưa. Ý niệm về sanh, về diệt chỉ là những tà kiến. Nếu khoa học không bị kẹt thì khoa học sẽ đi tới cái thấy phá chấp rất nhanh. Khoa học đã có những cái thấy thông qua kiểm chứng nhưng chưa đúng với sự thật. Dưới ánh sáng của đạo Phật, những cái thấy này chưa đạt đến bản chất của sự vật. Có quan niệm rằng: “Sự tắt lịm của hệ thái dương thì toàn bộ ngôi đền thành đạt của con người bị chôn vùi dưới những đổ nát của vũ trụ tàn hoại”. Đây là cái thấy bi thảm, là đoạn kiện. Theo cái nhìn của Phật giáo và cái nhìn của địa chất học, thế giới bị hủy diệt không có nghĩa là chấm dứt; sự tan tành của thế giới này có thể là đầu dây mối nhợ của một thế giới khác. Cũng như việc những ngôi sao trên trời tàn hoại thì những chất bụi đó đã làm ra con người trên trái đất. Con người là hậu duệ của những ngôi sao. Chúng ta được làm bằng những ngôi sao. Tôi đã viết ra được vài ý để đại diện nói lên cái thấy của đạo Phật về vũ trụ –có thể có những nhà Phật học khác chưa đồng ý, nhưng mình cần đưa ra để đàm luận với nhau. Nó như vầy: “Chủ thể và đối tượng nhận thức phát hiện từ tâm thức. Con người có mặt trong vạn vật và vạn vật có mặt trong con người. Khi thấy khi nghe khi nhận thức thì có tâm hành gọi là tưởng và mình có thể tưởng tượng ra rằng cá nhận thức đó có phần chủ thể và đối tượng. Tất cả những cái mình thấy mình chấp nhận như trăng, sao, núi, sông, con người và vạn vật đều là đối tượng của tri giác. Theo cái thấy của đạo Phật thì đối tượng và nhận thức tương tức với nhau đồng thời biểu hiện, không có cái nào có trước và không có cái nào có sau”. Đó là cái khó nhất trong đạo Phật. Đối tượng nằm trong chủ thể và chủ thể nằm trong đối tượng. Thường thường người ta cho rằng, có cái nhận thức chủ quan và có một cái thế giới khách quan. Cái khách quan kia tồn tại độc lập với cái nhận thức chủ quan, và đạo Phật gọi cái thấy này là nhị thủ. Ví dụ như một đồng tiền có hai mặt trái và phải. Cả hai mặt của đồng tiền cùng biểu hiện một lúc, không có mặt nào của đồng tiền biểu hiện trước mặt còn lại. Hễ có mặt trái ắt là có mặt phải và ngược lại. Cả hai mặt của đồng tiền đều từ chất đồng mà ra.

Khoa học nguyên tử bắt đầu thấy được cái mà mình thường gọi là vật chất có mang tâm thức con người. Kinh Kim Cương có nói, con người có mặt trong vạn vật và vạn vật có mặt trong con người. Kinh còn dạy, mình phải lấy đi ý niệm con người và vạn vật không có gì dính dấp đến nhau. Theo khoa học, con người là sinh vật xuất hiện trễ nhất trong lịch sử của sự sống. Nếu không có khoáng vật, thực vật thì làm sao có con người? Như vậy, con người đã có sẵn trong khoáng vật, thực vật ngay trước khi con người xuất hiện trên hành tinh này. Và khi con người chính thức xuất hiện, vạn vật vẫn còn ở trong con người. Đây là cái thấy bất nhị của đạo Phật.

Ngay trong hai câu đầu của mấy ý mà tôi đã đề cập ở trên, ta thấy được sự tương tức –chủ thể và đối tượng nằm trong nhau. Đứng về phương diện tri giác thì năng và sở tương tức –năng là chủ thể nhận thức, sở là đối tượng của nhận thức. Đứng về phương diện nhân sự luận, con người và vũ trụ tương tức. Đứng về phương diện bản thể luận, niết bàn và sinh diệt tương tức. Khi nói đến tam pháp ấn, niết bàn là bản thể, còn vô thường và vô ngã là hiện tượng. Nhưng hai cái này tương tức với nhau; nếu nhìn cho kỹ hiện tượng thì thấy được niết bàn. Khi tiếp xúc được với Niết bàn thì mình có thể tiếp xúc rất sâu sắc với hiện tượng. Đứng về phương diện niết bàn thì không có có cũng không có không, nhưng đứng về phương diện hiện tượng thì có có và có không. Tuy nhiên hai cái thấy này không chống đối nhau. Cái này ôm lấy cái kia, cái kia ôm lấy cái này. Với chỉ ba câu thôi nhưng đã nói lên được rất nhiều về cái thấy của đạo Bụt: chủ thể và đối tượng tương tức; con người và môi trường con người là tương tức; hiện tượng và bản thể là tương tức.

Nghiệp trong đạo Phật

Đạo Phật có đề cập đến vấn đề nghiệp quả. Mỗi ngày, chúng ta đều chế tác ra chúng. Nghiệp lành đưa tới an lạc, nghiệp dữ đưa tới khổ đau. Chỉ với một tư tưởng của mình đã có ảnh hưởng đến bản thân và cả thế giới. Một tư tưởng có thể đem lại niềm vui, sầu đau, sợ hãi,…Đây thuộc về ý nghiệp. Lời nói hoặc có thể đem lại hòa bình hay ly gián. Đây thuộc về khẩu nghiệp. Nếu mình nói ra lời dễ thương, lời tha thứ thì cả mình và thế giới đều cảm thấy khỏe. Còn ngược lại, nói lời độc ác thì cả mình và thế giới đều khổ. Những hành động bằng thân thể được gọi là thân nghiệp. Giáo lý đạo Phật có nói tới nghiệp nhưng tôn giáo và khoa học thì ít hoặc không nói tới. Cái nghiệp đưa tới cái quả báo (nghiệp là thói quen, quả báo là kết quả của nghiệp được biểu hiện). Cái nghiệp tốt đưa tới quả báo tốt, nghiệp xấu đưa tới quả báo xấu. Báo có hai mặt: chánh báo và y báo. Chánh báo là hợp thể năm uẩn. Y báo là hoàn cảnh, môi trường của mình đang sống.
Cuốn sách mới nhất của Tôi bằng tiếng Anh có tên là “the world we have” (chúng ta là thế giới). Chúng ta chính là thế giới, vì môi trường –y báo –do chính mình tạo ra. Chánh báo với y báo tương tức. Chánh báo ôm lấy y báo và y báo ôm lấy chánh báo. Tất cả đều vận hành theo luật tương quan tương duyên, trùng trùng duyên khởi. Luật tương quan tương duyên, trùng trùng duyên khởi chằng chịt thành một màng lưới.

Nghiệp thì có nghiệp chung và nghiệp riêng. Ví dụ như việc chúng ta cùng đến Làng Mai tu tập với nhau là nghiệp chung. Vì chúng ta có ước muốn giống nhau là muốn được tu tập và chuyển hóa. Cái nghiệp chung được làm bằng những nghiệp riêng, và cái nghiệp riêng tạo thành nghiệp chung. Nghiệp chung và nghiệp riêng tương tức. Và Phật xác định, mình có sự tự do ý chí, có khả năng chuyển nghiệp. Năng lượng chánh niệm có thể giúp mình chuyển nghiệp. Ban đầu, chúng ta có cảm tưởng, mình là một nạn nhân của cái màng lưới nghiệp. Nhưng nếu biết sử dụng chánh niệm, chánh định và chánh kiến thì ta có thể bắt đầu thay đổi. Cần nên biết, có thể có yếu tố tình cờ, nhưng không nhiều. Hành động trên cái một có tác động trên cái tất cả và cái tất cả có tác dụng trên cái một. Ví dụ, khi mỉm được một nụ cười thì mình khoẻ mà thế giới cũng nhờ đó mà được khoẻ. Mình có chánh niệm và chánh kiến thì hành động mới đưa tới giảm thiểu khổ đau và kiến tạo an lạc.

Có một câu chuyện kể về chú chó Poo. Một buổi sáng nọ, trời ngập tuyết, và con Pooh đi dạo một vòng. Sau khi đi một vòng, trở lại điểm xuất phát, nó thấy dấu chân của một loài vật nào đó. Nó nghĩ, có một sinh vật nào đó đã tới đây và đã đi một vòng trước mình. Nó bắt đầu sợ. Nó thử đi thêm vòng nữa để tìm dấu vết của con vật lạ thì nó phát hiện ra không chỉ có một con vật lạ nguy hiểm đã tới đây mà có tới hai con, vì có hai dấu chân xuất hiện ở đây. Nó nghĩ, những con vật này thật nguy hiểm, và nó sợ thật sự. Nhưng nhờ được khai thị, nó biết được những dấu chân ấy là của chính nó. Lord Edington –một  nhà khoa học nổi tiếng –bắt đầu thấy chủ thể và đối tượng là một. Thế kỷ thứ 21 này là một thách thức của các nhà khoa học. Nếu các nhà khoa học chỉ biết sử dụng dụng cụ toán học để khám phá các sự vật, hiện tượng thì sẽ không đạt tới được sự thật. Các nhà khoa học phải biết sử dụng thiền quán, phải biết sử dụng niệm và định thì mới thành công được trong việc nghiên cứu của mình.