Trang chủ

TTSĐ - Quyển 01: Chương 01: 1-2 Một thiền tập điển hình thời Bụt còn tại thế: Kinh Tư Lượng

Một thiền tập điển hình thời Bụt còn tại thế: Kinh Tư Lượng


Kinh Tư Lượng[1] là một kinh có tính cách rất thực tiễn cho sự tu học của các thầy ở trong tăng đoàn của Bụt, cũng như cho mọi tăng thân ngày nay.

Kinh Tư Lượng có mặt ở trong tạng Pali và cũng có mặt trong Hán tạng.  Trong tạng Pali, kinh nằm ở trong Trung Bộ, Majihimª-Nik(ya số 15, có tên là kinh Anum(na Sutta, mình dịch là kinh Tư Lượng. Đó là vì chữ tư lượng có xuất hiện trong kinh tương đương ở Hán Tạng, tức là kinh Tỳ Khưu Thỉnh trong bộ Trung A Hàm 89, kinh số 26 tạng kinh Đại Chánh.

Hiện nay tại Làng Mai chúng ta may mắn có được cả hai văn bản, một bằng tiếng Pali, tức là kinh Anum(na, dịch là kinh Tư Lượng, và một bằng chữ Hán, tức là kinh Tỳ Khưu Thỉnh ở trong bộ Trung A Hàm của Hán Tạng.

Khi so sánh hai kinh, chúng ta thấy hơn 90% những điều hai kinh nói là rất phù hợp với nhau, chỉ có một vài chi tiết khác nhau. Thành ra ít nhất là 90% lời của Bụt đã được giữ lại trong hai kinh này. Những điều khác biệt thì không quan trọng lắm. Thật ra kinh này không phải do chính Bụt nói mà do một vị đệ tử lớn của ngài nói, đó là thầy Maha Mục Kiền Liên, Mah(moggall(na. Kinh này có tác dụng xây dựng tăng thân. Ngày xưa trong thời Bụt còn tại thế, các thầy, các sư cô đọc kinh này rất nhiều. Có thể nói rằng sau Giới bản thì đây là kinh đã được tụng đọc nhiều nhất trong tăng đoàn, tại vì nó có tác dụng xây dựng tăng thân.  Nếu tăng thân không có hạnh phúc thì sự thực tập của tăng đoàn sẽ không thành công.

Tư lượng có nghĩa là so sánh, đo lường, quán chiếu. Đáng lý phải dịch là tỷ lượng, vì tỷ mới là so sánh, còn lượng là đo lường. Tuy vậy, "so sánh" ở đây là so sánh người khác với mình, đem hai người đặt gần nhau để xem có những điều nào giống và điều nào không giống, cho nên dịch là tư lượng. Ngoài ra, sở dĩ không dùng chữ tỷ lượng, lý do thứ nhất là vì tỷ lượng có màu sắc của Nhận thức luận (Espistemology) tương tự như Luận lý học. Lý do thứ hai là trong bản chữ Hán của Trung A Hàm các tổ cũng đã dùng chữ Tư lượng. Trong bản của Pali Text Society, người ta dịch là Discourse on measuring in accordance with, tức là lấy bản thân mình mà so sánh với bản thân của một người bạn đồng tu. Nhìn vào bản thân người bạn đồng tu rồi nhìn vào bản thân của mình để suy tưởng, để quán chiếu, để xem mình có thể học được điều gì, và không nên học điều gì từ người bạn tu. Thành ra mình có thể dịch là "The discourse on measuring and reflecting" và bỏ chữ "in accordance with" đi cũng được.  Nó có nghĩa là trông người lại ngẫm đến ta.

Như đã nói ở trên, kinh này không phải do Bụt trực tiếp nói, mà do thầy Ma Ha Mục Kiền Liên nói.  Chúng ta biết rằng trong thời đại của Bụt, có những thầy rất giỏi, những thầy đã đóng vai sư anh rất tuyệt diệu trong tăng đoàn Nguyên thủy. Hai vị sư anh lớn nhất, có uy tín nhất, hai cánh tay phải của Bụt là thầy Xá Lợi Phất và thầy Mục Kiền Liên. Chỉ hai năm sau ngày thành đạo, Bụt đã thu nhận hai vị đệ tử lớn này. Từ đó trở về sau, Bụt có hai thầy như là những bàn tay xây dựng tăng thân rất hữu hiệu. Hai thầy cũng gặp nhiều khó khăn, cũng đã bị ganh tị, nhưng hai thầy đã đóng vai trò huynh trưởng rất hay.

Trong một khóa tu chúng ta đã học một kinh do thầy Xá Lợi Phất nói, đó là kinh Thủy Dụ, và vị huynh trưởng của tăng đoàn đã dạy cho các sư em những phương pháp để đối trị với cơn giận. Ở đây, chúng ta học kinh Tư Lượng do thầy Ma Ha Mục Kiền Liên dạy.

Khi nghe nói đến thầy Mục Kiền Liên, chúng ta chỉ có một ý niệm là thầy rất thân với thầy Xá Lợi Phất, và thầy là một bậc đại hiếu. Chúng ta thường gọi thầy là Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát. Nhưng ít ai biết được thầy là một vị sư anh rất hiểu các sư em của mình, và đã cống hiến những lời dạy dỗ hết sức thực tế. Công trình xây dựng tăng thân của thầy Mục Kiền Liên rất lớn, và chúng ta sẽ thấy điều đó trong kinh này.

Do sự truyền thừa khác nhau, cho nên hai kinh này (Kinh Tư Lượng thuộc tạng Pali, và Kinh Tỳ Khưu Thỉnh thuộc Hán tạng) không đồng ý với nhau ở điểm kinh đã được nói tại đâu. Theo kinh Tư Lượng của tạng Pali thì kinh này được nói tại Sumsuma Ragirra. Hán tạng thì nói kinh này được nói tại tu viện Trúc Lâm. Tu viện Trúc Lâm này không phải là tu viện Trúc Lâm ở thành Vương Xá. Tuy vậy chi tiết này không quan trọng lắm.  Điều quan trọng là lời kinh rất giống nhau, và nội dung kinh cũng rất giống nhau. Tên kinh trong bản Hán tạng có thể dịch là Lời thỉnh cầu của vị khất sĩ. Điều này cũng rất quan trọng, vì trong kinh Tư Lượng, tức là kinh thuộc về tạng Pali, cái ý niệm về sự thỉnh cầu của một vị khất sĩ cũng được nói rất rõ.